Thực hiện Luật BHYT: Đánh giá toàn diện để có giải pháp

Thứ tư - 23/08/2017 02:31
Chính sách BHYT đang ngày càng đi vào cuộc sống, khi huy động được cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách này vẫn còn không ít khó khăn, vướng mắc…
Hình minh họa
Hình minh họa

Vẫn còn vướng mắc

Theo Bộ Y tế, sau hơn 2 năm thực hiện Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT, bên cạnh những kết quả đáng ghi nhận, cũng còn một số vướng mắc, nhất là liên quan đến mở rộng độ bao phủ BHYT. Cụ thể, những NLĐ làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn, HĐLĐ có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên, NLĐ là người quản lý DN hưởng tiền lương đều có trách nhiệm tham gia BHYT- không phân biệt là người nước ngoài hay người Việt Nam. Tuy nhiên, việc bắt buộc tham gia BHYT đối với nhóm đối tượng là NLĐ nước ngoài làm việc tại Việt Nam (nhưng hưởng lương tại nước ngoài); người nước ngoài đang sinh sống và kết hôn với người Việt Nam rất khó thực hiện.

Cùng với đó, theo Khoản 5 Điều 12, Khoản 3 Điều 13, Khoản 6 Điều 15, tất cả các thành viên thuộc hộ gia đình tham gia BHYT cùng một thời điểm- theo phương thức thông qua đại diện hộ gia đình (trừ các đối tượng quy định tại Khoản 1, Khoản 2, Khoản 3 và Khoản 4 Điều 12). Song, quá trình thực hiện các quy định của Luật BHYT đã phát sinh một số khó khăn, vướng mắc.

Ngoài ra, theo số liệu tổng hợp của BHXH Việt Nam, trong năm 2016 vẫn có 32 địa phương chưa đạt chỉ tiêu về bao phủ BHYT theo Quyết định số 1167/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Trong đó, tỉ lệ tham gia BHYT của những người thuộc hộ nông- lâm- ngư- diêm nghiệp có mức sống trung bình và tỉ lệ tham gia BHYT của nhóm hộ gia đình vẫn còn thấp, đặc biệt là với những lao động tự do, người buôn bán nhỏ di cư từ nông thôn lên các thành phố lớn.

Luật BHYT có quy định người tham gia BHYT khi đi KCB BHYT không đúng tuyến được quỹ BHYT thanh toán theo mức hưởng và với tỉ lệ tương ứng là 40%, 60%, 70%. Thế nhưng, trong thực tế, hệ thống các cơ sở KCB rất đa dạng, ngoài các BV còn có hệ thống các viện, trung tâm y tế tuyến tỉnh, tuyến huyện có chức năng KCB. Vì vậy, quy định này đã gây khó khăn cho các cơ sở y tế như viện, trung tâm y tế trong tổ chức triển khai thực hiện, làm ảnh hưởng tới quyền lợi của người tham gia BHYT.

Đáng chú ý, chính sách thông tuyến KCB đã góp phần tăng tiếp cận dịch vụ y tế, đảm bảo quyền lợi cho người tham gia BHYT, đặc biệt là đối với người nghèo, người dân tộc thiểu số… Nhưng, một số người lợi dụng quy định này để đi khám nhiều lần trong ngày, trong tháng tại nhiều cơ sở y tế khác nhau, có trường hợp đã bị phát hiện và phải trả lại tiền cho cơ quan BHXH. Một số cơ sở KCB dùng các “chiêu trò” thu hút người bệnh, nhằm mục đích lạm dụng, trục lợi quỹ BHYT.

Ngoài ra, hiệu quả đầu tư nguồn lực cho y tế cơ sở cũng bị hạn chế, số lượt KCB tại trạm y tế xã giảm, trong khi nhiều trạm y tế đã được đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực. Trong khi đó, ở tuyến huyện, việc đầu tư nguồn lực chưa đáp ứng được nhu cầu, dẫn đến việc có nơi bị quá tải, chất lượng KCB chưa được như mong muốn. Việc thông tuyến KCB BHYT cũng có nguy cơ “phá vỡ” cơ chế chuyển tuyến của ngành Y tế. Do đó, chính sách thông tuyến cần được nghiên cứu, đánh giá kỹ, để có điều chỉnh cho phù hợp. Đặc biệt, việc quy định thông tuyến huyện trong cả nước từ ngày 1/1/2016, trong khi tuyến xã, PKĐK chỉ được thông tuyến trong địa bàn tỉnh cũng gây khó khăn trong tổ chức thực hiện và khó giải thích cho người dân.

Cần đánh giá toàn diện để có giải pháp

Qua 25 năm thực hiện chính sách pháp luật về BHYT, nhất là sau hơn 2 năm thực hiện Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT, chất lượng KCB BHYT ngày càng cải thiện, người dân được tiếp cận dịch vụ kỹ thuật y tế hiện đại, nhiều thuốc mới hiệu quả cao, giúp nhiều người vượt qua ốm đau và các căn bệnh hiểm nghèo. Quỹ BHYT đang trở thành nguồn tài chính cơ bản phục vụ cho hoạt động của BV. Tuy nhiên, lộ trình tiến tới BHYT toàn dân và xây dựng nền y tế công bằng, hiệu quả và phát triển cho thấy vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc.

Do đó, theo Bộ Y tế, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt xây dựng quy chế chi trả từ nguồn quỹ BHYT cho hoạt động CSSKBĐ; có giải pháp tăng độ bao phủ BHYT, nhất là với nhóm lao động tự do, người buôn bán nhỏ di cư từ các vùng nông thôn lên các thành phố. Bên cạnh đó, triển khai đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng KCB BHYT; đổi mới phương thức thanh toán, bảo đảm cân đối thu- chi quỹ BHYT, quản lý và sử dụng quỹ BHYT có hiệu quả; phấn đấu giảm tỉ lệ chi tiêu y tế trực tiếp từ tiền túi của hộ gia đình xuống dưới 40% vào năm 2020…

Bên cạnh đó, Quốc hội cũng cần tăng cường giám sát việc chấp hành Luật BHYT, giám sát thực hiện cấp thẻ BHYT cho người thuộc hộ nghèo, người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, người đang sinh sống tại các xã đảo, huyện đảo. Việc sửa đổi Luật KCB cần quan tâm đến phân tuyến cơ sở KCB theo hướng phân tuyến chuyên môn kỹ thuật, phân hạng BV công lập và tư nhân. Đồng thời, đánh giá việc thực hiện Luật BHYT để sửa đổi các quy định liên quan đến đối tượng và cách thức tham gia BHYT, đến quyền lợi BHYT và quản lý, sử dụng quỹ BHYT.

Ngoài ra, Chính phủ cần sửa đổi Nghị định 105/2014/NĐ-CP; chỉ đạo UBND các tỉnh đẩy nhanh tiến độ rà soát, lập danh sách đối tượng hộ nghèo, người dân tộc thiểu số sống tại vùng khó khăn. Bộ Tài chính cần cân đối, bố trí nguồn kinh phí để nâng mức hỗ trợ đóng BHYT cho HSSV, người thuộc hộ gia đình làm nông- lâm- ngư- diêm nghiệp có mức sống trung bình từ tối thiểu 30% lên tối thiểu 50%...

Tác giả bài viết: Nguyệt Hà - Báo BHXH

  • Những tin mới hơn
  • Những tin cũ hơn
Thăm dò

Mức độ hài lòng của bạn khi làm việc với cơ quan BHXH ?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây